5 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất

Bài làm 1

Loading...

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Năm 1966 ông gia nhập quân đội vào binh chủng thông tin, tham gia chiến đầu ở nhiều chiến trường, Bài thơ “Ánh trăng” ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ như một lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao của tác giả khi còn ở ngoài chiến trận gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, trời đất.

Bài thơ là mạch cảm xúc kéo dài từ quá khứ đến hiện tại. Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh quen thuộc, thân thương của người dân Việt Nam nói chung và tác giả nói riêng.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

Đoạn thơ như một lời tự sự hoài niệm về quá khứ của tác giả đã gắn bó với trăng như thế nào, đã là người bạn thân thiết bên nhau những tháng ngày tuổi thơ cho tới kháng chiến như thế nào? Cuộc sống tự hòa quyện mình vào với thiên nhiên, với đất trời, một cuộc sống yên bình mà cũng không kém phần xáo động bởi những thứ xung quanh. Chiến tranh đã qua, một cuộc chiến kesod dài mấy ngàn năm lịch sử, phải sống trong rừng, sống quanh núi, ánh trăng vốn trở thành người bạn tri kỉ với tác giả. Hàng đêm có trăng, cũng không buồn nơi rừng sâu núi hiểm. Hồi nhỏ và hồi chiến tranh, tác giả đã đưa người đọc từ từ cảm nhận theo dấu mốc thời gian luân chạy luôn hồi, ánh trăng đã từng là bạn hiền, là người bạn cùng vui chơi hồi còn nhỏ và từng vào sinh ra tử hồi còn chiến tranh.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Trăng đẹp và giản dị vô cùng, một vẻ đẹp thuần túy mà không cần trang điểm, không cần gợi tạo màu sắc, trăng đẹp một cách hồn nhiên và vô tư như thế. Vầng trăng ấy trong chiến tranh, vầng trăng ấy hồi còn nhỏ cứ ngỡ sẽ không bao giờ quên, nhưng không phải.

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường.”

Cuộc sống chốn phù du hoa lệ bởi ánh đèn điện dường như đã che lấp mất ánh sáng bao trùm của ánh trăng. Những ngôi nhà cao tầng mọc san sát, bao nhiêu thứ của cuộc sống hiện đại khiến con người ta dễ dàng quên đi những gì của quá khứ đã từng là thân thuộc. Dễ quên đi những lời hứa sẽ mãi là “ánh trăng tình nghĩa”, là sự chở che nhau trong cuộc đời nhưng tất cả lại bị lãng quên như một đóa hoa phù du có nở sẽ có tàn. Giọng thơ trong khổ thơ này như chúng xuống, như nghẹn lại, một niềm cảm xúc khó diễn tả làm cho nỗi niềm của con người với ánh trăng mang một chút gì đó là cảm xúc của sự hối lỗi, là những cảm xúc còn vẹn nguyên như những ngày đầu.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn – đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

Đoạn thơ cho ta dòng cảm xúc đột ngột. Một cảm xúc khó diễn tả tành lời cứ như ta đã lâu không gặp lại người cũ, hay chính là cảm giác tự trách móc bản thân khi đã vội vã quên đi người bạn tri kỉ với mình. Những động từ mạnh đã gợi tả sức mãnh liệt trong dòng cảm xúc của tác giả “thình lình”, “bật tung”, “đột ngột” chính là sự thay đổi trạng thái cảm xúc của con người trong bóng tối bất ngờ của thành phố khi đèn chiếu sáng bị tắt. Phải chăng với những thứ xa hoa của phố thị cùng với bận rộn của công việc trong những ngày hòa bình của đất nước ta đã quên mất đi những gì là đẹp đẽ, là thuần túy là tri kỉ đã bên ta trong suốt chặng đường khó khăn gian khổ.

5 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất

Vầng trăng tròn một cách “đột ngột” chính là khi tác giả bật cửa sổ và đối diện với ánh trăng của mình. Trăng có khi nào đang khuyết lại tròn “đột ngột”, trăng vẫn tròn như thế, vẫn tròn trịa như những kỉ niệm vẫn vẹn nguyên chỉ có con người là thay đổi, là không nhận ra hay vô tình quên đi mất những kí ức đẹp của mình với ánh trăng.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Mặt đối mặt đã cho tác giả có cảm nhận rung rung về những kỉ niệm chạy dài tỏng kí ức, những kỉ niệm đẹp đẽ nhất, thuần túy nhất giữ chính tác giả với ánh trăng. Một vòng tròn ký ức về đồng, bể, biển, rừng khiến tác giả chạnh lòng yếu đuối, một cảm giác xót xa đến tủi hờn khi vô tình quên mất ánh trăng.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Phải rồi, trăng vẫn cứ tròn, trăng vẫn cứ im lặng mà chẳng một lời trách móc với con người. Trăng vẫn hiền lành và dịu dàng như thế, nhưng con người lại cứ quên trăng đi, để lúc đối mặt với trăng phải giật mình về những điều hối lỗi đó. Một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Dù cuộc sống có thay đổi, ánh trăng vẫn thế, vẫn bao dung, vẫn rộng lượng với con người. Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ.

Với giọng điệu tâm tình, tự nhiên mà giàu hình ảnh mang tính biểu cảm, Ánh trăng của Nguyễn Duy như tự nhắc nhở những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất trời và sự hiền hậu. Bài thơ như một lời nhắc nhở con người phải biết sống có tình có nghĩa, phải biết yêu thương và quý trọng nhau, phải biết chia sẻ ngọt bùi, và không được quên đi quá khứ.

Bài làm 2

Mác-xen Prút-xơ đã từng nói: Thế giới được tạo lập không phải một lần mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập. Mỗi khi người nghệ sĩ xuất hiện thì lại cho ta một góc nhìn mới về thế giới. Trong thế giới bao la ấy có biết bao điều mới lạ nhưng đôi khi cũng chỉ có, một cái gì đó thôi nhưng qua mỗi người nghệ sĩ ta lại có một cách nhìn khác nhau. Cũng với một vầng trăng đối với Lí Bạch, nó là điểm tựa để nhà thơ nhớ về quê hương, cũng ảnh trăng ấy nó lại là người bạn tâm giao của Bác Hồ, còn đối với Nguyễn Duy, qua bài thơ Ánh trăng lại là lời nhắc nhở ân tình, ân nghĩa thủy chung với quá khứ.

Thuở ấu thơ là quãng thời gian đẹp và thơ mộng của một đời người. Đó là những năm tháng rong chơi, nô đùa vùng vẫy với thiên nhiên. Nhà thơ Nguyễn Duy cũng đã có một thời ấu thơ như thế:

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể

Cái thuở đang còn là một cậu bé thì tác giả đã được tiếp xúc với bầu không khí trong lành của quê hương. Được nô đùa trên cánh đồng rộng, được tắm mát trong dòng nước êm dịu, mát lành. Chao ôi! Biết bao nhiêu kỉ niệm thân thuộc ở cái miền quê yên ấm ấy. Đồng, sông bể là nơi rất đỗi bình dị thôi nhưng nó đã nuôi lớn tâm hồn thơ dại của nhà thơ. Thời gian cứ mải miết trôi. Thời tuổi thơ hồn nhiên đã qua đi, những kỉ niệm gắn bó với quê hương cũng đã trôi vào dĩ vãng. Giờ đây khi đã trở thành một chàng trai trưởng thành thì đã phải rời xa mảnh đất quê hương để đi làm một nhiệm vụ mới – bảo vệ Tổ quốc. Sống, chiến đấu ở rừng; nơi ấy không còn là đồng, sông, bể nữa mà là những nguy hiểm, gian nan:

Hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Cả một thời gian dài kháng chiến sống với núi rừng, vầng trăng đã trở thành tri kỉ. Không biết từ lúc nào trăng và người đã gắn bó thân thiết. Chính tình cảm bè bạn ấy đã giúp người lính vượt lên trên mọi vất vả, khó khăn của thời cuộc. Họ đến với nhau không phải là vì vật chất mà là từ tinh thần. Có lẽ vì thế mà tình cảm ấy ngày càng gắn bó khăng khít. Lúc vui hay buồn bên cạnh người lính đã có bạn tâm sự. Ngày qua ngày, nhờ có tình bạn ấy mà con người dễ dàng vượt qua tất cả. Do trăng và người đến với nhau không chút ngần ngại nên tình cảm của họ cũng mộc mạc chân thành:

Hồi chiến tranh ở rừng
trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa

Tình cảm giữa trăng và người ngày càng được nuôi lớn hơn “tình nghĩa”. Trăng như một con người thực sự biết chia sẻ, đồng cảm, ân tình ân nghĩa thủy chung. Có lẽ chính cảnh rừng núi hoang vắng buồn bã, quạnh hiu đã khiến cho trăng và người xích lại gần nhau. Ta có cảm giác như cuộc đời người lính gian khổ thiếu thốn không còn lạnh lẽo nữa mà đã được sưởi ấm trong tình thương yêu của bạn bè. Trong tâm trí người lính, vầng trăng đã chiếm một vị trí quan trọng. Phải chăng những kỉ niệm của ánh trăng đã thế chỗ cho những kỉ niệm của thuở ấu thơ. Giữa trăng và người đã có tình cảm sâu đậm tưởng chừng chẳng thể nào xa cách được vậy mà:

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
 vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.

Thật ngỡ ngàng! Tại sáo người lính lại có sự đổi thay nhanh chóng đến vậy? Chẳng lẽ là để thích ứng với cuộc sống hiện đại mà nỡ lãng quên đi tình bạn năm xưa sao? Về với chốn phồn hoa đô thị náo nhiệt, con người đã chôn vùi những kỉ niệm năm xưa và bắt đầu với cuộc sống mới. Quá khứ thủa xưa với một thời hồn nhiên trong sáng, những năm tháng kháng chiến khó khăn, gian khổ trăng và người đã gắn bó thân thiết thế mà giờ đây lại vô tình lãng quên. Nếu trước đây vầng trăng có ý nghĩa quan trọng đối với người lính tri kỉ, tình nghĩa thì bây giờ là gì? Đổi lại trăng chỉ là một người khách qua đường ư? Trăng chỉ là một người dưng thôi sao? Phải chăng người lính khi đi ra khỏi cuộc chiến tranh trở về sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi ánh điện, cửa gương nên đã quên đi cái vầng trăng tình nghĩa? Có lẽ không còn phải sống trong ngôi nhà liếp chật hẹp, chỉ có đèn dầu nên người lính mới quên đi vầng trăng? Tình bạn năm xưa không hề hình thành từ của cải vật chất vậy mà bây giờ chính của cải vật chất đã xóa mờ đi tình bạn ấy. Con người vô tình lãng quên đi quá khứ của những năm tháng chiến đấu gian khổ và cũng kéo theo cả tình bạn tri âm tri khỉ. Bị bạn quên lãng nhưng ánh trăng ấy vẫn son sắt, nghĩa tình. Dường như trăng vẫn nuôi hi vọng một ngày nào đó người bạn của mình sẽ kịp nhận ra:

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Thật ngẫu nhiên, khi mất điện con người đã gặp lại vầng trăng năm xưa. Vội bật tung cửa sổ, một phản xạ tự nhiên tìm kiếm ánh sáng. Có lẽ người lính cũng không lường trước được việc sẽ gặp lại người bạn năm xưa trong thời điểm ấy. Trong không gian bao la chỉ có vầng trăng soi sáng. Giữa thời điểm ấy cũng chỉ có vầng trăng tròn vành vạnh xuất hiện trước mắt người bạn cũ. Gặp lại người bạn tri kỉ năm xưa liệu người lính sẽ xử sự như thế nào đây?

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Hai khuôn mặt, hai linh hồn sống đang nhìn nhau. Trong cái khoảnh khắc ấy, người lính có cái gì rưng rưng. Liệu, có phải cái rưng rưng đó là cảm xúc, nỗi niềm của người lính với vầng trăng tình nghĩa, với những kỉ niệm của quá khứ.

Vầng trăng đã đánh thức khơi nguồn cho những gì của quá khứ trôi dạt vì tương lai. Mọi kỉ niệm thuộc về dĩ vãng giờ đây nó đang sống dậy, đang ùa về trong tâm trí anh, đó là nơi anh đã sống, đã đi qua, thế mà đã có thời gian anh quên nó. Vầng trăng quả là một người bạn tốt bụng. Trong năm tháng chiến tranh gian khổ, chính vầng trăng đã đến bầu bạn tâm tình với người lính thì lúc này trăng lại giúp người bạn của mình nhớ về quá khứ.

Trăng như là gió, còn những gì của quá khứ được chôn vùi dưới lớp cát bụi của thời gian. Gió đã đến, xua tan lớp cát bụi đó đi để lại những gì nguyên vẹn của thời xưa. Nếu không có lúc mất điện thì người lính có kịp nhận ra mình, nhận ra những điều mà mình đã đánh mất? Còn những kỉ niệm của thời niên thiếu lúc trưởng thành thì sẽ bị chôn vùi dưới đáy đại dương đên lúc nào nữa? Bị bạn lãng quên song trăng vẫn nguyên vẹn tròn đầy:

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình

Không một lời trách móc, oán hờn, trăng vẫn tròn vành vạnh độ lượng, bao dung, vị tha. Vẫn biết bạn mình vô tình lãng quên vậy mà trăng vẫn ân tình, ân nghĩa, thủy chung. Trăng chính là biểu tượng của quá khứ nguyên vẹn, chẳng thể phai mờ. Trăng không trách móc, oán hờn nhưng ánh trăng im phăng phắc lại là sự trừng phạt nặng nề nhất. Trăng như một nhân chứng rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc nhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ. Điều đó đã làm cho người lính băn khoăn, dáy dứt:

Ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

Bao năm tháng nuôi hi vọng về sự tỉnh ngộ của bạn mình, kết cục trăng đã đạt được. Cái gì đến rồi cũng phải đến. Con người đã tự nhận ra, hối hận về cách cư xử của mình. Không có tòa án nào xét xử sự phản bội trong tình bạn duy chỉ có tòa án của lương tâm, sự cao đẹp của trăng khiến người lính giật mình nhìn lại mình để nhận ra mình đã lãng quên một phần quan trọng của cuộc đời. Ánh trăng tuy vẫn không hề thổn thức một lời nào song con người vẫn tự hiểu được điều trăng muốn nói. Con người đã giật mình vì sự bao dung, vị tha của vầng trăng tình nghĩa chăng? Hay là vì một điều gì khác? Người lính đã vô tình mà quên đi quá khứ của mình, của dân tộc nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì vẫn nguyên vẹn, vĩnh hằng. Con người không thể sống thiếu quá khứ bởi nếu không có quá khứ thì sẽ không có tương lai, quá khứ mà tốt đẹp thì con người có thể dễ dàng vươn tới những điều ở phía trước. Đó mới là cách sống đúng đắn. Con người biết tôn trọng quá khứ thì quá khứ sẽ là nền tảng, chỗ dựa vững chắc đưa ta tới những chân trời mới. Vầng trăng chính là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, vẻ đẹp bình dị. Bài thơ Ánh trâng như một lời nhắc nhở ân tình ân nghĩa thủy chung với quá khứ.

Thế giới trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, quá khứ nghĩa tình. Nó còn khơi dậy trong chúng ta đạo lí sống uống nước, nhớ nguồn của nhân dân ta. Bài thơ tuy đã khép lại nhưng đã mở ra trước mắt chúng ta biết bao điều trăn trở, suy tư về cách sống, lẽ sống trên cuộc hành trình dài rộng của mỗi con người.

… Từ hồi về thành phố
quen ảnh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
(Ánh trăng, Nguyễn Duy)

Bài làm 3

Cát trắng và Ánh trăng là hai tập thơ của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Một hồn thơ tươi trẻ tỏa mát bóng tre, như con sóng vỗ dòng sông thơ ấu phảng phất hương vị đồng quê:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trầm.
                         (Đò Lèn)                                            

Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Đò Lèn… là những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy. Bài thơ Ánh trăng rút trong tập thơ cùng tên, được tác giả viết vào năm 1978, tại Thành phố Hổ Chí Minh. 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành: vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nước mà nó còn gắn bó với tuổi thơ, với những ngày kháng chiến gian khổ vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng vô tình lãng quên.

   Nếu như trong bài thơ Tre Việt Nam, câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng thì ở bài thơ Ánh trăng này lại có một nét mới. Chữ đầu của dòng thơ, câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian, kỉ niệm?

   Hai khổ thơ đầu nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng thời chiến tranh. Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la: "Hồi nhỏ sống với đồng – với sông rồi với bể". Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng – sông); từ "với" được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, từng được ngắm trăng trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể. Tuổi thơ của chúng ta dễ có mấy ai được cái cơ may ấy như nhà thơ? Thuở bé nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chỉ được ngắm trăng nơi sân nhà: "Ông trăng tròn sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em… Chỉ có trăng sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em… " (Trích Trăng sáng sân nhà em).

   Tuổi thơ được ngắm trăng thích thế, như một chút hoài niệm xa vời. Hai câu thơ tiếp theo nói về hồi máu lửa, trăng với người lính, trăng đã thành "tri kỉ":

Hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ.

   "Tri kỉ": biết người như biết mình; bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ- Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng "Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm" (Hồ Chí Minh). Giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới "Đầu súng trăng treo" (Chính Hữu). Nẻo đường hành quân của người chiến sĩ nhiều đêm đã trở thành "nẻo đường trăng dát vàng". Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương. Đất nước trải qua những năm dài máu lửa, trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù:

Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao.
                (Phạm Tiến Duật)

   Các tao nhân ngày xưa thường "đăng lâu vọng nguyệt", còn anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều phen đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm vành trăng cao nguyên. Thật là thú vị khi đọc vần thơ Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng: "hồi chiến tranh ở rừng – vầng trăng thành tri kỉ".

   Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Lại một vần lưng nữa xuất hiện – Một ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên người lính những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh:

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ.

   Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành "vầng trăng tri kỉ", "vầng trăng tình nghĩa" ngỡ như không bao giờ có thể quên. Một ý thơ làm động đến đáy tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: "ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa "

   Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống đổi thay, con người dễ thay đổi, có lúc dễ trở nên vô tình, có kẻ dễ trở thành "ăn ở bạc". Từ ở rừng, sau chiến thắng về thành phố, được trưng diện và xài sang: buyn-đinh, cao ốc, quen ánh điện, cửa gương… Và "vầng trăng tri kĩ", "vầng trăng tình nghĩa" đã bị người lãng quên, dửng dưng. Cách so sánh thấm thía làm chột dạ nhiều người:

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.

   Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, trăng như người dưng đi qua, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay. Người có lương tâm, lương tri mới biết sám hối. Biết sám hối để tự hoàn thiện nhân cách, tự vươn lên, hướng tâm hồn về ánh sáng và cái cao cả. Không đao to búa lớn, không đại ngôn, mà trái lại, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giãi bày tâm sự, nhà thơ đang trò chuyện với mình. Chất trữ tình của thơ ca trở nên sâu lắng, chân thành.

   Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co, uốn khúc, cuộc đời cũng có nhiều biến động li kì. Ghi lại một tình huống "cuộc sống thị thành"của những con người mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ. Các từ "thình lình", "vội", "đột ngột" gợi tả tình thái đầy biểu cảm. Có nhà triết học nói: "Cuộc đời dạy ta nhiều hơn trang sách . Vần thơ của Nguyễn Duy nói với ta rất nhiều:

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bạt tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.

   Trăng xưa đã đến với người, vẫn "tròn", vẫn "đẹp", vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thi nhân, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng:

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng,là bể
như là sông, là rừng.

   Nguyễn Tuân từng coi trăng là "cố nhân", nhà thơ Xuân Diệu, trong bài Nguyệt cầm viết cách đây 60 năm cũng có câu: "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần". Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này. Một cái nhìn đầy áy náy xót xa: "Ngửa mặt lên nhìn mặt". Hai chữ "mặt" trong vần thơ: mặt trăng và mặt người cùng "đối diện đàm tâm". Trăng chẳng nói, trăng chẳng trách thế mà người lính cảm thấy "có cái gì rưng rưng". "Rưng rưng" nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại, cái tốt lành hé lộ. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp từ (là) cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa:… "như là đồng, là bể – như là sông, là rừng". Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, tính hình tượng và hàm súc, từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.

   Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí:

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

   "Tròn vành vạnh" là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. "Im phăng phắc" là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ "kể chi người vô tình" là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thuỷ chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ.

   Ánh trăng là một bài thơ hay. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng "ánh trăng"đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình. Phải thủy chung trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè, đồng chí, với nhân dân – đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này.

Bài làm 4

   Nguyễn Duy thuộc thế hệ làm thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ "Tre Việt Nam". Bài "Hơi ấm ổ rơm" của anh đã từng đoạt giải thưởng báo Văn Nghệ. Hiện nay. Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đểu và khỏe. "Ánh trăng" là một trong những bài thơ cùa anh được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc. tứ thơ bất ngờ mới lạ.

   Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp:

"Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng lị thành tri kỉ."

   Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng ở bên cạnh. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới thành "tri kỉ". Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ.

   Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với trăng:

"Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa."

   Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ dẹp không cần trang sức, đẹp mội cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hóa vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. "Vầng trăng tình nghĩa" bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ như tác giả đã nói ở trên.

   Ấy thế mà có những thời gian tác giả tự thú là mình đã lãng quên cái "vầng trăng tình nghĩa" ấy:

"Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường. "

   Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, "quen ánh điện", "cửa gương". "Ánh điện", "cửa gương" tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng… dần dần "cái vầng trăng tình nghĩa" ngày nào bị tác giả lãng quên. "Vầng trăng" ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. Đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. "Trăng" bây giờ thành "người dưng". Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhau: "ngọt bùi nhớ lúc đắng cay". Ớ thành phố vì quen với "ánh điện, cửa gương", quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý đến"vầng trăng" từng là bạn tri ki một thời.

   Phải đến lúc toàn thành phố mất diện:

"Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn."

   "Vầng trăng" xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy, … tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả cứ "rưng rưng" nước mắt:

"Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng, là bể
như là sông, là rừng".

   Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại người bạn tuổi thơ, như gặp lại người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Tác giả không dấu được niềm xúc dộng mãnh liệt của mình. "Vầng trăng" nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ. chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến dấu đầy gian lao thử thách.

   Khổ cuối bài thơ, Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm trong suy tư, trong chiêm nghiệm về "vầng trăng tình nghĩa" một thời:

"Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình… "

   Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy "đủ cho ta giật mình" mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho phẩm chất cao quý của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm "không thể nào quên".

   "Ánh trăng" của Nguyền Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. "Ánh trăng" còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải "giật mình" suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Bài làm 5

Nguyễn Duy một nhà thơ có biết bao nhiêu tình thương mến. Như chúng ta đã biết thì trong chiến tranh khó khăn gian khổ những người lính luôn tìm cho một tình cảm để bù lấp vào những khó khăn ấy. Nguyễn Duy cũng vậy, ngoài tình đồng chí mà bất kể người lính nào cũng có thì nhà thơ còn có một người bạn tri kỉ riêng đó chính là ánh trăng. Nguyễn Duy đã viết về người bạn tri kỉ ấy trong quá trình từ chiến tranh.

Trước hết là ánh trăng khi còn chiến tranh, khi ấy nhà thơ coi ánh trang giống như một người tri kỉ vậy chính vì thế mà ánh trăng gắn bó với nhà thơ suốt:

“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ hồi còn nhỏ cho đến khi chiến tranh ánh trăng luôn là nguồn sáng hiền hòa mà nhà thơ tìm kiếm đến để soi sáng cho tất cả những gì nhà thơ cần nhìn thấy trong đêm tối. Chính cái ánh sáng hiền hòa ấy cũng làm cho tâm hồn của người chiến sĩ trở nên yêu đời hơn. Trong đêm tối ở chiến trường thì ánh trăng chính là người bạn tri kỉ mỗi khi nhà thơ ngẩn ngơ nhớ nhà hay là khi hành quân giết giặc ánh trang ấy trở thành nguồn sáng soi đường cho người chiến sĩ dễ nhìn thấy địch.  Ánh trăng ấy khiến cho nhà thơ tưởng chừng sẽ không bao giờ quên vầng trăng tình nghĩa ấy.

Thế nhưng khi về thành phố, cuộc sống thay đổi và những ý nghĩ của con người cũng thay đổi:

“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

thành phố không còn là nơi để trăng khoe ánh sáng của mình nữa, tại sao vậy? vì ánh sáng của điện của gương hay là lòng của người xưa đã quên ánh trăng ấy?. Vầng trăng từ một người tri kỉ khi về thành phố bỗng nhiên lại trở thành một người dưng qua đường, không hề quen biết. Thế rồi một hôm điện cũng phải tắt đi, phòng tối om thì bỗng nhiên người tri kỉ năm xưa xuất hiện. Ánh trăng ấy vẫn ở đó chỉ là người bạn năm xưa không còn thấy sự tồn tại của nó mà thôi. Nó thì vẫn soi sáng còn ánh điện kia có sáng cũng có lúc bị mất đi.

Nhà thơ bỗng nhiên thấy được người bạn năm xưa, ngửa mặt lên nhìn mặt thì biết bao nhiêu kỉ niệm cũ ùa về trong đầu:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

khi nhà thơ ngửa mặt lên thì thấy rưng rưng những gì như là sông là biển,là rừng. bao nhiêu kỉ niệm năm xưa nay lại hiện về trong trí óc. Còn trăng thì cứ tròn vành vạnh như trách móc hờn giận cái sự vô tâm tàn nhẫn lãng quên của người bạn cũ. Ánh trăng không nói gì mà chỉ im phăng phắc đủ cho nhà thơ thấy giật mình về  lỗi lầm của mình. Cái sự im lặng mới là cái đáng sơ nhất.

Qua bài thơ Nguyễn Duy muốn gửi đến một thông điệp đó là phải biết yêu thương trân trọng quá khứ không nên lãng quên nó. Càng không nên vì có cái mới mà lãng quên nó. Vì đến khi cái mới mờ nhạt dễ mất đi còn quá khứ thì vẫn còn ở đó.. Một khi ta nhớ ra lại thấy bản thân mình quả thật rất tồi tệ khi đã lãng quên quá khứ lãng quên những người bạn tri kỉ.

Loading...
Content Protection by DMCA.com