3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du hay nhất

Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du hay nhất

Bài làm 1

Loading...

Nguyễn Du là một nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam, ông là một nhà văn thiên tài với những tác phẩm có tầm cao về giá trị và tư tưởng. Cùng với kiệt tác Truyện Kiều đã trở nên quen thuộc với bất kì người Việt Nam nào thì Nguyễn Du còn có rất nhiều những tác phẩm chữ Hán có giá trị, tiêu biểu trong số đó là bài thơ Độc tiểu thanh kí.

Độc tiểu Thanh kí là bài thơ mà Nguyễn Du viết về cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của người con gái người Trung Hoa Tiểu Thanh. Tiểu Thanh là một cô gái xinh đẹp, có tài văn chương, vì gia đình nghèo khó mà nàng bị gả vào làm lẽ tại một gia đình giàu có. Ở đây, nàng bị người vợ cả độc ác hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần, nàng sống tách biệt ở một ngôi nhà nhỏ ở núi Cô Sơn. Cuộc sống đơn độc, đau khổ ở đây nàng chẳng thể dãi bày cùng ai, chỉ có thể gửi tâm sự vào những bài thơ.

Vì quá buồn khổ mà chỉ một thời gian sau đó Tiểu Thanh đã ốm mà chế, ngay cả khi nàng đã chết thì người vợ cả vẫn ghen tuông mù quáng mà đem đốt hết những bài thơ mà nàng đã viết ra. Sau này người ta tìm và chép lại được những bài thơ còn sót lại của nàng để nhớ về tài năng của người con gái bạc mệnh Tiểu Thanh.

Khi đọc được những bài thơ của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã vô cùng xúc động, ông thương xót cho con người tài hoa, bạc mệnh của Tiểu Thanh, thông qua cuộc đời của nàng, Nguyễn Du chợt nhận ra cuộc đời của mình cũng có nhiều nét tương đồng, đó là sự bất công đối với những tài năng nghệ thuật chân  chính. Sự đồng cảm,xót xa này là chất liệu để nhà thơ viết lên bài thơ này.

Ngay trong phần mở đầu của bài thơ, tác giả Nguyễn Du đã dựng lên khung cảnh trước ngôi nhà nhỏ ở núi Cô Sơn mà Tiểu Thanh từng sinh sống:

“Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”

Hai câu thơ có sức gợi mạnh mẽ, nó gợi mở cho người đọc về không gian nơi Tiểu Thanh từng sống, đó là một nơi vốn có cảnh sắc hữu tình nhưng  lại hóa thành gò hoang, bởi chính nơi đây đã chôn vùi tự do, tình yêu, tài năng , tuổi thanh xuân của một người con gái. NHững nỗi niềm, tâm sự Tiểu Thanh đã gửi gắm vào những vần thơ, cuộc đời đã quá bất công đối với người con gái tài sắc ấy, kiếp làm lẽ đau khổ, ê chề trong thực tại vẫn chưa đủ, ngay cả khi đã chết đi, những bài thơ- sản phẩm tinh thần của người con gái ấy cũng bị đốt thành tro, thật đau đớn biết bao. Hình ảnh mảnh giấy tàn là sự xót xa, đồng cảm của tác giả Nguyễn Du đối với cuộc đời nhiều bất hạnh của Tiểu Thanh.

3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du hay nhất

Tuy những mảnh giấy tàn chỉ là những vật vô tri vô giác nhưng trong cảm nhận của Nguyễn Du thì dường như những mảnh giấy ấy là một sinh thể vẫn còn vấn vương linh hồn của Tiểu Thanh nên vẫn còn phảng phất đến giờ.

“Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.”

Văn chương là sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ, vốn không có sinh mệnh nhưng trước sự hủy diệt tàn bạo của con người thì hồn nó  vẫn vương vấn nơi trần thế chưa thể tiêu tan. Sinh mệnh của văn chương được đặt trong mối tương quan với sinh mệnh của người nghệ sĩ, bởi vậy mà nó phản ánh được cuộc đời oan khuất, bị vùi dập của người nghệ sĩ ấy.

Hai câu thơ đã thể hiện được sự thương sót tột độ của Nguyễn Du với Tiểu Thanh- người con gái tài năng, bạc mệnh. Dù đã 300 năm trôi qua những hình ảnh của nàng vẫn vương vấn nơi trần thế khiến những người đời sau không khỏi xót xa.

“Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.”

Hai câu luận của bài thơ, tác giả Nguyễn Du đã thể hiện được nỗi xót xa, đồng cảm sâu sắc với Tiểu Thanh. Câu thơ cất lên chất chứa nỗi tuyệt vọng, ai oán, câu hỏi nhưng chưa tìm được lời giải. Đồng cảm với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã nhận thấy được nhiều nét tương đồng trong cuộc đời nghệ sĩ chịu nhiều những bất công. Phải chăng, những người phụ nữ xinh đẹp, tài năng thường mang trong mình cái “mầm” oan nghiệt, muốn trốn tránh nhưng không sao trốn được. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã thể hiện tư tưởng xót thương đối với những người phụ nữ:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Trong hai câu thơ kết của bài thơ, Tác giả đã nhìn cuộc đời của mình qua cuộc đời của Tiểu Thanh:

“Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng”

Nguyễn Du đã ngậm ngùi, xót xa khi nghĩ đến mình ở 300 năm sau, Tiểu Thanh sau 300 năm vẫn gợi được sự xót xa, đồng cảm của người đời. Vậy, với Tố Như thì sao? Liệu còn ai nhớ đến không? Câu hỏi thể hiện được sự day dứt, đau khổ của nhà thơ. Từ cuộc đời của Tiểu Thanh, tác giả đã liên tưởng đến cuộc đời với số phận đầy thăng trầm của mình.Lời tự sự chân thàh khiến cho người đọc không khỏi xót xa.

Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du là một tác phẩm để lại nhiều xót thương, day dứt trong lòng người đọc, thông qua cuộc đời bất hạnh của người con gái tài hoa, bạc mệnh Tiểu Thanh, tác giả đã gợi những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời của những người nghệ sĩ nói chung.

Bài làm 2

Độc tiểu thanh kí là tấm lòng của Nguyễn Du với một người con gái có tài năng, có sắc đẹp nhưng bị trà đạp lên nhân phẩm và đạo đức, bị coi thường. Đó là lòng yêu, sự cảm thông, là nỗi đau, nôi sầu vạn kỉ, là tiếng lòng tê tái xót thương của một người tài tử dành cho người nghệ sĩ.

Mở đầu bài thơ là câu thơ miêu tả vể cảnh vườn hoa bên Hồ Tây giờ đã trở thành một bãi hoang rồi. Câu thơ thoảng chút chua xót nhẹ nhàng: 

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang.

Bằng ngòi bút sắc sảo của mình tác giả đã tạo nên một vườn hoa với sắc hương và hình dáng đẹp. Cái đẹp chi phối, choáng ngợp tâm hồn ta. Một nét ngỡ ngàng trước vẻ diệu kì của thiên nhiên, tạo hóa. Trong bộn bề lo toan đời thường, ta vẫn dành một chút thời gian để thưởng thức và tận hưởng hương thơm. Cái đẹp ấy tưởng chừng là sự trường tồn và vĩnh cửu. Thế nhưng, trải qua thời gian, cái đẹp lụi tàn theo năm tháng. Vườn hoa bình yên, êm ả đã trở thành một bãi hoang phế, trơ lụi tiêu điều. Nó chỉ để lại một chút dấu ấn trong lòng người mà thôi! Nuối tiếc, thương xót mà pha chút ngậm ngùi. Nguyễn Du đã mượn sự biến đổi của thiên nhiên mà ngụ ý sự biến đổi khôn lường của cuộc đời, con người. Đó là sự ý thức về cái vô hạn của trời đất với cái hữu hạn của con người. Nó gợi lên sự tàn lụi không thể nào tránh khỏi cho một kiếp người, cho hồng nhan. Và Nguyễn Du đau xót! Câu thơ không chỉ có ý nghĩa cho sự mở đầu, giới thiệu sự việc mà chính là cảm xúc của nhân vật trữ tình:

Thổn thức bên song mánh giấy tàn.

Đứng trước những dấu vết còn lại của người con gái ấy, bên những mảnh thơ tàn của một tài hoa bị vùi dập, Nguyễn Du cảm nhận và thổn thức đau thương. Ông muốn lưu giữ tất cả, níu kéo tất cả nhưng cuối cùng chỉ còn là sự tàn tạ. Cái để gợi cho lòng người thi sĩ thì đâu có nhiều mà tình thì mênh mông, vô hạn, Nguyền Du đã khóc Tiểu Thanh – khóc nàng qua. một tập sách nhỏ. Lòng Nguyễn Du mênh mông mà sâu lắng quá! Khoảng cách của không gian và thời gian không thể ngăn cách, cản trở tấm lòng của ông. Vượt qua tất cả, Nguyễn Du đã tìm đến cái tài, cái đẹp và trân trọng nó:

Son phấn có thần chôn vẫn hận

Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Nguyễn Du đã hiểu và thông cảm với Tiểu Thanh, nỗi oan nàng phải gánh chịu là nỗi oan của thế kỉ, nỗi sầu vạn kỉ. Dưới suối vàng, Tiểu Thanh chắc còn đau đớn, u uất… Nồi đau ai oán của nàng còn sâu sắc, mạnh mẽ hơn nhiều khi cả linh hồn nàng cũng bị hủy diệt: 

Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Nguyễn Du đã tố cáo cái chế độ phong kiến trà đạp cuộc sống của con người. Nguyền Du thoáng một chút động lòng mà nghe đã tê tái, tang thương. Người có tài ăn chương thì bạc mệnh như cái thuyết “tài mệnh tương đố” trong Truyện Kiều của ông. Đó là quy luật, là hiện thực phũ phàng mà quyền làm người không thể chấp nhận. Phi lí, độc ác hơn là sô phận của những áng văn thơ. Chúng có tội tình gì đâu mà phải trở thành tro bụi? Nhưng có phải đó là tấm lòng Tiểu Thanh, là chút lòng của một người con gái. Thể xác nàng dưới suối vàng nhưng linh hồn còn trú ngụ nơi trần gian. Linh hồn ấy là tâm sự, là nửa cuộc đời còn ẩn mãi trong mỗi trang thơ. Tại sao thể xác bị diệt vong thì linh hồn cũng bị hủy tàn? “Son phấn” và “văn chương” là sắc đẹp, tài năng của Tiểu Thanh. Đó là cái đẹp toàn mĩ. Nhưng xã hội phong kiến đâu có chấp nhận nó nên tài tử đành nuốt hận nơi suối vàng. Với chúng ta những người đời sau hôm nay còn tiếc, còn thương Tiểu Thanh nhiều lắm! Nhưng với Nguyễn Du, đó còn là sự trân trọng tài năng, gián tiếp gợi nên sự căm ghét, khinh bỉ những gì chà đạp lên tài năng đó. Nguyễn Du khóc Tiểu Thanh chứng tỏ ông đã hiểu nàng nhiều lắm… Ở một nơi xa, Nguyễn Du đang hướng về nơi ấy – nơi ấy có một người con gái tài sắc mà oan khổ lưu ly. Tiếng thơ đọc lên nghe êm dịu, đồng cảm vậy thôi nhưng chao ôi… nó như một tiếng nấc, tiếng nghẹn đến tức lòng. Nó như thét, như gào muốn xã hội phải trả lại quyền tự do cho cái tài và cái mĩ. Nhưng biết làm sao đây? Câu thơ tiếp theo đau đớn, tuyệt vọng:

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi

Cái án phong lưu khách tự mang.

Cái xã hội xấu xa thối nát ấy đã vùi dập một tài hoa hiếm thấy. Đó là vấn đề muôn thuở tự ngàn xưa. Nó luôn đau đáu, trăn trở trong lòng Nguyễn Du. Từ một số phận cụ thể, Nguyễn Du khái quát lên một vấn đề muôn đời. Nó có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Cái tài bị chà đạp, bị tàn lụi bởi sự độc ác thờ ở của cuộc đời! Đó chính là một hiện thực – một sự thật phũ phàng mà không ai có thể lí giải được, ở đây có sự phát triển của tư tưởng Nguyễn Du. Ông đã mất niềm tin vào “tài mệnh tương đố”, vào cái mệnh trời:

Thầm đọc chung hỏi trời

Trời cao biết đâu mà hỏi.

Câu thơ như một lời tuyệt vọng đến vô cùng. Ta cất lên lời hòi mà cuối cùng thì chìm hút, tan loãng ra không gian mênh mang. Nguyễn Du thương Tiểu Thanh lắm! Ông muốn giải oan cho nàng dầu nàng đã khuất. Nhưng sâu hơn, Nguyễn Du còn khao khát muốn xã hội này không còn ai phải như Tiểu Thanh. Cái tài và sắc đẹp phải được trở lại đúng với giá trị của nó, không ai có quyền phủ nhận. Nhưng hiện tại, sự thực hoàn toàn khác. Người tài tử buộc phải chấp nhận cái “án phong lưu” mang nặng tình nhân thế. Mối oan của kẻ phong nhã thật lạ lùng. Bi kịch ấy từ lâu đã dành cho những tâm hồn biết nhạy cảm, dễ rung động trước cái đẹp và đồng cảm với nỗi khổ đau của người khác. Nguyễn Du cũng nhận thức được “mối phong vận kì oan” của mình. Nhưng Nguyễn Du không sợ mà ông đau xót: đau xót cho mình và cho người. Cảm nhận điều đó, ông đã tự xếp mình cùng hội cùng thuyền cùng trang cùng lứa với những người tài tử, với cả những người con gái. Đó là một tấm lòng biết vượt lên ý thức chế độ phong kiến, một tâm hồn nhân đạo sâu sắc. Ý thức về “cùng một lứa bên trời lận đận” của Nguyễn Du đã giúp ông xóa nhòa được ranh giới bậc thang trong xã hôi và nhường lại đó là một sự cảm thông giữa con người với con người, ở một khía cạnh, ta trân trọng mà đồng thời cũng kính trọng Nguyễn Du biết bao.

Thương cảm trước số phận của Tiểu Thanh, Nguyền Du nâng cảm xúc của mình lên thành lòng thương một lớp người trong xã hội, thế rồi, ông trở lại lòng mình mà: “Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Hai câu thơ cuối như xoáy chặt vào lòng ta một nôi đau trước nỗi tuyệt vọng của một trang tài tử. Câu kết Nguyên Du dành cho chính mình bằng một câu hỏi lớn. Điều đó phù hợp với tâm lí con người. Nguyễn Du xót xa trước một thân phận hồng nhan chính là rơi lệ trước số phận mình đó! Nhưng như thế thì chưa dủ. Bởi lẽ “điều quan trọng là với cảm hứng trung thực của một nhà thơ lớn, từ chỗ thương khóc cho sự oan uổng của những kiếp tài hoa, Nguyễn Du đã tiến đến chỗ vạch ra được – một cách không tự giác – những đặc trưng bản chất của xã hội thời ông. Đó là sự chà đạp lên mọi nhân phẩm, sự tha hóa của mọi tính cách, sự tan rã của mọi giá trị cao đẹp” (Nguyễn Huệ Chi): 

Bất tri tam bách dư niên hậu 

Thiến hạ hà nhân khấp Tố Như.

(Thơ chữ Hán)

Lời thơ như vừa hi vọng vừa tuyệt vọng, vừa cô đơn, vừa tìm kiếm. Nguyễn Du muốn tìm một tấm lòng tri kỉ để thông cảm cùng mình “khấp Tố Như” không hẳn chỉ là khóc mà nó tức tưởi, ấm ức, nức nở. Khóc vì hiểu tận cùng nỗi đau, tận cùng nỗi xót. Nỗi đau ấy như hơn một lần ông đã đau với Tiểu Thanh. Nhưng biết đến bao giờ… bao giờ… Nguyễn Du đã bao lần từng trăn trở: “Thiên hạ thùy nhân liên bạc mệnh” hay “Thiên hạ hà nhân liên độc tỉnh”… Tấm lòng Nguyễn Du còn thấu đến ngàn đời. Nhưng có lẽ giờ đây, trang tài tử đã yên lòng nhắm mắt.

Nguyễn Du đã bày tỏ lòng xót xa, thương cảm đối với Tiểu Thanh, người con gái tài sắc. Cái xã hội dơ bẩn kia đã đẩy những con người tài sắc đó xuống vũng bùn của xã hội. Trải qua tháng năm, cái tình cảm Nguyễn Du vẫn còn nóng bỏng, vẫn tươi nguyên mà dồn nén lòng ta. Đó là tấm lòng nhân đạo, là sự cảm thông sâu sắc với những kiếp người gặp những trắc trở bất hạnh trong cuộc sống.

Bài làm 3

Nguyễn Du là nhà thơ lớn gắn liền với nhiều tác phẩm được lưu truyền cho tới ngày nay. Một số tác phẩm như Truyện Kiều , hay Độc Tiểu Thanh kí đều khắc khoải những suy nghĩ và chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về số phận, kiếp người và những hoàn cảnh trớ trêu cảu thân phận người nghèo hàn khó khăn trong xã hội cũ. Đặc biệt thân phận và những kiếp người  bất hạnh được khắc họa thành công đầy thương cảm trong những trang viết của ông

Một trong những bài thơ viết về kiếp hồng nhan bạc phận chính là “ Độc tiểu thanh kí” nhắc đến nàng Tiểu Thanh xinh đẹp nhưng lại gặp phải số phận và hoàn cảnh trớ trêu. Phận nữ nhi không thể chống lại những lễ giáo và thành kiến hà khắc, cũng không thể làm chủ cuộc sống và số phận của mình.

Tiểu Thanh là cô gái đáng thương khi kết thúc cuộc đời của mình khi tuổi chỉ ở mới trăng tròn, lẽ ra cái tuổi đẹp nhất này, những cô gái mà hồng vui vẻ e ấp hoặc hạnh phúc với vòng tay yêu thương của chồng. Nhưng số phận lại không mỉm cười với nàng khi liên tục phải chịu đựng những éo le của xã hội phong kiến. Nàng chết rồi, một cái chết tức tưởi và cô độc nhưng tài năng của nàng cũng bị vợ cả đốt hết toàn bộ văn chương, một số bài thơ còn sót lại được lưu truyền và nói hộ thay cho kiếp hồng nhan của nàng.

Đọc được những tâm sự và xót xa cho thân phận nàng tiểu Thanh, Nguyễn Du đã sáng tác bài thơ khi có dịp đứng trước Tây Hồ, bùi ngùi xúc động trước sự buồn bã đau xót cho thân phận người phụ nữ bé nhỏ

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

 Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn;

Phong vận kì oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

Dịch thơ Tiếng Việt:

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.

Son phấn có thần chôn vẫn hận,

Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,

Cái án phong lưu khách tự mang.

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,

Người đời ai khóc Tố Như chăng ?

Tây Hổ hoa uyển tẫn thành khư,

(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,)

Đứng trước không gian của Tây Hồ, lòng nhà thơ bùi ngùi xúc động khi nhớ và viết về câu chuyện xung quanh người phụ nữ xinh đẹp và tài giỏi. Khung cảnh chẳng còn nguyên vẹn và tươi đẹp như xưa , cảnh vật hoang tàn gợi nhớ đến câu chuyện đáng buồn của người con gái xưa. Cuộc đời của người con gái tài sắc vẹn toàn , thân xác chưa vướng mấy bụi trần mà phải chôn vùi thân xác dưới đất đá kia. Tình cảnh đau xót tăng lên gấp bội và trái tim nhà thơ lại hướng đến một kiếp người đầy bất hạnh. Dường như cảnh đẹp kia chẳng còn đẹp bởi ở đó câu chuyện buồn của người con gái thời xưa vẫn lưu truyền cho đến tận bây giờ

Độc điếu song tiền nhất chi thư.

(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.)

Chẳng còn nữa một Tiểu Thanh xinh đẹp nhưng kiếp người dở dang lại được chia sử qua những trang giấy và thân phận và số mệnh ấy mãi khiến cho tác giả xót xa tới quặn thắt lòng. Khóc cho số phận nàng Tiểu Thanh, khóc cho một kiếp người những cũng là cả một xã hội của những số phận bạc bẽo . Tác giả bày tỏ sự xúc động mãnh liệt đến những người như nàng Tiểu Thanh và cũng chính là khóc thương cho chính số phận của bản thân mình

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh lụy phần dư:

(Son phấn có thần chôn vẫn hận,

Văn chương không mệnh đốt còn vương.)

Người chết đi, chẳng còn thân xác trần tục nhưng linh hồn dường như vẫn còn vấn vương với trần gian thế thái, còn đâu nưa một Tiểu Thanh bằng xương bằng thịt nhưng linh hồn của nàng khiến cho người ta càng thêm chua xót và xúc động đến tột cùng. Nỗi hận của nàng Tiểu Thanh là nỗi uất hận , thân xác bị chôn vùi nhưng nỗi buồn về nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời thương tiếc tới muôn đời sau.Linh hồn và những câu chuyện xung quanh Tiểu Thanh vẫn không bao giờ bị chôn vùi mà đội mồ bật dậy, càng thêm chua xót càng thêm tủi hờn. Người đẹp chết đi nhưng văn chương không thể nào bị chôn vùi giống như số phận của chính chủ nhân của nó. Cũng không thể trách được, sức mạnh tinh thần và linh hồn của Tiểu Thanh dường như quyện vào gửi gắm vào những trang viết, nỗi lòng nhuốm máu của Tiểu Thanh

Đến hai câu luận:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,  

Phong vận kì oan ngã tự cư.

(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,

Cái án phong lưu khách tự mang.)

Nỗi tuyệt vọng và nỗi niềm thương cảm của tác giả dành cho số phận của Tiểu Thanh ngày một dâng cao. Nỗi oán hận của Tiểu Thanh đã được tác giả khái quát lên trở thành nỗi hận của giới giai nhân tài tử, tài hoa nhưng bạc mệnh. Con người quá nhỏ bé không thể chống lại được số phận, cuộc đời quá khắt khe hay do xã hội quá vô lí bất công, thành kiến hà khắc đã khiến cho nỗi buồn kim cổ của những giai nhân tài sắc vẹn toàn thêm sâu sắc.

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,

Người đời ai khóc Tố Như chăng ?

Khóc cho Tiểu Thanh rồi tác giả lại ngậm ngùi cho chính số phận của chính mình. Những con người bản mệnh yếu đuối chẳng chống lại số mệnh, những người đã có duyên với văn chương giống như tự vận nỗi buồn thiên cổ, những suy nghĩ về cuộc đời và con người vào trong chính những trang viết của mình. Không biết sau này có ai đồng cảm với chính tác giả không, với những tác phẩm của ông.

Tóm lại , Nguyễn Du là một nhà thơ có những góc nhìn nhận sâu sắc và đầy đồng cảm đối với những số phận bất hạnh và sống chịu những chế độ hà khắc trong xã hội cũ. Không thể phủ nhận rằng một lần nữa khi Nguyễn Du nhắc lại câu chuyện Tiểu Thanh đã khiến cho độc giả vô cùng xúc động mà còn đặt ra câu hỏi về sự đồng cảm và sợi dây truyền nối giữa hậu thế với cuộc đời số phận của ông và những đứa con tinh thần của ông.

Loading...
Content Protection by DMCA.com