3 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Bài làm 1

Loading...

Phạm Ngũ Lão là nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay, trong đó nổi bật lên là bài thơ Tỏ Lòng, với những cảm xúc đan xen và tấm lòng yêu nước của tác giả được thể hiện vô cùng sâu sắc trong tác phẩm.

Trong tác phẩm hàng loạt những ý chí quyết tâm được dựng xây nhằm thể hiện một ý chí kiên cường và sự anh dũng đối với tất cả mọi người, sự quyết tâm để dành được độc lập tự do cho dân tộc, trải qua mấy nghìn thu, vẫn luôn múa giáo và tung hoành khắc giang sơn để có thể tìm ra một lối thoát cho chính dân tộc của mình. Đây đều là những ý chí và lòng quyết tâm sâu sắc nhất mà họ mong muốn dành cho dân tộc:

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.

(Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.)

Với một ý chí quyết tâm cao, lòng chiến đấu anh dũng đã được đẩy mạnh mẽ với những điều tưởng chừng như nhỏ bé nhưng nó lại có một sức mạnh vô cùng to lớn khắc khoải trong trái tim của mỗi con người, đoàn kết sức mạnh, 3 quân đoàn kết với nhau để có thể đánh thắng được kẻ thù. Kẻ thù được ví như trâu, trâu biểu tượng cho sức mạnh và sự hung dữ, nhưng khi ba quân đã kiên cường và đoàn kết, thì điều đó trở nên vô cùng nhẹ nhàng và nó có ý nghĩa to lớn là đánh thắng được những kẻ thù. Sức mạnh của ba ba quân đó là sức mạnh của sự đoàn kết, luôn chiến đấu và sẵn sàng nuốt trôi đi kẻ thù, dù cho kẻ thù có nặng và nguy hiểm tới mức độ như thế nào.

Mấy mùa thu đi qua, múa giáo trên giang hồ, và cầm bút chiến đấu cũng luôn cố gắng hết sức mình, đó là sức mạnh của những ý chí, lòng quyết tâm, và sự quyết tâm cao độ, trong khoảng không gian đó, sức mạnh của mỗi người đều được nâng cao, và nó trở thành một động lực để chiến đấu. Những chiến công đó đều tạo nên được những công danh cho cuộc đời, và sự nghiệp của đất nước, mỗi chúng ta đều có thể thấy được ý chí và tính kiên cường của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Tư thế hiên ngang anh dũng, nó thể hiện một ý chí kiên cường, quyết tâm để đem lại chiến công cho dân tộc, ở đây tư thế của những đấng nam nhi, nâng cao được tài năng và ý chí kiến cường của những người chiến sĩ cách mạng.

Những bậc nam nhi trong thiên hạ đều được giao trọng trách và trách nhiệm bảo vệ đất nước, chính những điều đó mà trên người những người quân tử luôn mang những vấn vương, và công nợ đối với đất nước. Trong hai câu thơ đầu dường như tác giả đang thể hiện khí phách của những anh hùng dân tộc, đó là sức mạnh của sự kiên cường, lòng quyết tâm và còn thể hiện được ý chí anh dũng thực hiện được những trọng trách và mang lại nhiều tác dụng lớn trong cuộc đời của tác giả, những điều đó đã tạo nên được cho chúng ta thấy một con người có tinh thần và trách nhiệm cao đối với đất nước và đối với những người dân nghèo của dân tộc:

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)

Công danh của những đấng nam nhi, phải xuất phát từ một tấm lòng yêu nước, thương dân, công danh và sự nghiệp đó họ phải đánh đổi bằng xương máu của chính mình, nhưng dù khó khăn, gian nan và vất vả, nhưng họ vẫn không nản chí, mà luôn vượt qua để đạt được những công danh và sự nghiệp bất ngờ đối với chính dân tộc của mình. Những tình cảm của những đấng nam nhi đều được tạo nên từ những đều đơn giản nhất, đó là sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do cho dân tộc.

Khí phách anh hùng luôn luôn được đẩy cao và nó đã tạo nên một ý chí và lòng quyết tâm đối với những bậc chính quân trong thiên hạ. Món nợ công danh đó là những chiến công và sự quyết tâm và trách nhiệm đối với dân, với nước. Tấm lòng của những bậc chính nhân anh hùng, đó là những ý chí đối với chính con người và đất nước của dân tộc Việt nam, trong chính những vần thơ trên mà tác giả đã thể hiện được những cảm xúc và những tấm lòng và lòng hẹn ước của dân tộc. Chính tác giả đang thể hiện nỗi lòng của mình, và những tấm lòng đó là mối thẹn thùng với ý chí của tấm lòng của ý chí của một người trai nhân.

Trong bài thơ cảm xúc của tác giả đã thể hiện được khí phách anh hùng của những nam nhi thời hán đường, đó là những con người có ý chí và lòng kiên cường, sự quyết tâm và tấm lòng có phần day dứt của tác giả, khi bản thân vẫn còn mang mối nợ đối với đất nước, dân tộc và đất nước, cảm xúc của tác giả đang thể hiện những tình cảm đặc biệt đối với những anh hùng có cảm xúc mạnh mẽ và tấm lòng của tác giả đối với dân tộc của mình. Trong trái tim của tác giả, vừa thẹn thùng khi mình chưa bằng vũ hầu.

Bài thơ đã mang âm hưởng mạnh mẽ và da diết trong tâm hồn của một đấng nam nhi, khi muốn lo và phục vụ những lợi ích thiết thực đối với chính dân tộc của mình, cảm xúc đó đã tạo âm hưởng sâu xa, và nhịp điệu và hồn phách trong chính tác phẩm này.

Bài làm 2

Quy luật của sự tồn tại và phát triển văn học là sự gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc và số phận con người. Trong bất cứ mộ giai đoạn văn học nào cũng có thể nhìn thấy hình ảnh lịch sử xã hội gian đoạn ấy. Văn học đời Trần cũng không là ngoại lệ. Đó là tấm gương phản chiếu một thời đại lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, của tinh thần yêu nước Việt Nam. Điều thú vị hơn nữa là những tác phẩm văn học tiêu biểu lại gắn liền với tên tuổi những dang tướng, những nhà quân sư tài ba như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung… Có lẽ chính bởi điều đó mà hình tượng con người trong văn học đời Trần luôn luôn nổi bật bởi tinh thần trách nhiệm đối với giang sơn xã tắc.

Tỏ lòng – bài thơ nổi tiếng của danh tướng Phạm Ngũ Lão, là một bức tranh đẹp về con người thời đại nhà Trần. Qua đó người đọc không chỉ cảm nhận được không khí hào hùng một thời đại mà còn có thể cảm nhận được vẻ đẹp con người thời đại ấy trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam:

"Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu".

Dịch nghĩa:

"Cầm ngang ngọn giáo đứng giữa non sông trả đã mấy thu
Ba quân như hổ có thể nuốt trôi trâu
Nam nhi chưa trả xong món nợ công dang
Thẹn khi nghe nhân gian nói chuyện Vũ Hầu".

Bài thơ đã khái quát trọn vẹn bức chân dung người anh hùng đời Trần. Đó là một tư thế hiên ngang hào sảng, một khí phách mạnh mẽ, một hoài bão cao đẹp. Những đường nét ấy chỉ có thể được làm nên bởi một thời đại mà niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm đối với giang sơn xã tắc là một ngọn lửa hừng hực cháy trong tim mỗi người dân.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh người anh hùng trong tư thế hiên ngang.

"Cầm ngang ngọn giáo đứng giữa non sông trải qua đã mấy thu"

Tính chất hiên ngang thể hiện trong hình ảnh chiếm lính không gian ("Cầm ngang ngọn giáo, đứng giữa non sông") và chiếm lĩnh hết thời gian ("đã mấy thu" rồi). Không gian đo bằng chiều dài đất nước, thời gian đo bằng tháng năm… Tất cả làm nên một tượng đài về người anh hùng mà linh hồn của tượng đài ấy là ý thức lớn lao về trách nhiệm bảo vệ tổ quốc. Điều ấy đã trở thành tinh thần của không chỉ những người anh hùng nhà Trần, mà còn tiêu biểu cho tinh thần dân tộc, làm nên truyền thống bất khuất, kiên trung của biết bao thế hệ yêu nước trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Cùng với một tư thế hiên ngang, hình ảnh người anh hùng trong bài thơ còn được khắc họa bởi một sức mạnh phi thường. Nếu câu thơ đầu tiên là biểu tượng về tinh thần dân tộc thì câu thơ thứ hai là biểu tượng của khí thế dũng mãnh của một đội quân, một khối đoàn kết, một khối sức mạnh không gì địch nổi:

"Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu".

Nhưng có lẽ đẹp hơn cả, hào hùng hơn cả là hoài bão cao đẹp của người anh hùng:

"Nam nhi chưa trả xong nợ công dang
Thẹn khi nghe nhân gian nói chuyện Vũ Hầu".

Vũ Hầu Gia Cát Lượng là tấm gương của tinh thần cống hiến, là hình ảnh lí tưởng của kẻ nam nhi lập công danh và được lưu truyền trong sử sách. Người nam nhi trong bài thơ, trước tấm gương Gia Cát Lượng đã "thẹn" với chính mình vì món nợ công dang chưa trả xong. Đó là cái "thẹn" cao cả, cái "thẹn" chỉ có thể có được ở những con người ý thức sâu sắc hơn ai hết về nghĩa vụ làm người, về trách nhiệm của kẻ làm trai trong trời đất. Chính cái thẹn ấy đã làm nên vẻ đẹp, làm nên chiều sâu bên trong của bức chân dung người anh hùng thời nhà Trần, làm nên một thời đại rạng danh sử sách bởi ý chí quật cường và tinh thần "Sát Thái".

Đọc bài thơ, người đọc không chỉ cảm động trước lời bày tỏ về trách nhiệm đối với non sông của một con người mà còn được chứng kiến và ngưỡng mộ một thời đại đã làm nên những dấu ấn rực rỡ trong lịch sử dân tộc ta.

Bài thơ được viết cách chúng ta hơn mươi thế kỉ nhưng những trăn trở, hoài bão của nhà thơ vẫn mang ý nghĩa tích cực. Quyết chí lập công sao cho "lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ" (Hịch tướng sĩ văn – Trần Quốc Tuấn) vẫn là một khái niệm còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay.

Bài làm 3

Triều đại nhà Trần (1126-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào lịch sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

   Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ca ngợi là "Hào khí Đông A". Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Toản, "Thuật hoài" (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão, "Bạch Đằng giang phú" của Trương Hán Siêu,… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

   Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: "Thuật hoài" và "Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương".

   Bài thơ "Tỏ lòng" thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

   Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ "Hoành sóc giang san kháp kỉ thu" là một câu thơ có hình tượng kỳ vỹ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang san) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỉ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở "bình Nguyên" ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

   Đội quân "Sát Thát" ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo "tỳ hổ" quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. "Khí thôn Ngưu" nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mơ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu: ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoàng tráng, vũ trụ: "Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu". Hình ảnh ẩn dụ so sánh: "Tam quân tì hổ…" trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân "sát thát" đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

"Thuyền bè muôn đội

Tinh kỳ phấp phới

Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…"

(Bạch Đằng giang phú)

   Người chiến sĩ "bình Nguyên" mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công đê đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Trần Quốc Toản) – "Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo" (Trần Thủ Độ). "…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng" (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

"Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu".

   "Công danh" mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, được tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ "công danh" tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ "Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu", mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu "Khiến cho người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…" để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: "Non sông nghìn thuở vững âu vàng" (Trần Nhân Tông).

   "Thuật hoài" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kì vỹ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vu anh hùng ca. Nó mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời "hào khí Đông A".

Loading...
Content Protection by DMCA.com