Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch lam


28 Tháng 4 2013

Truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam, phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Truyện của Thạch Lam không có chuyện. Truyện “Hai đứa trẻ” cũng vậy. Chỉ có hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hoàng hôn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ. Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp. “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống. Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hoài bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngôn ngữ của ông có thể ví với tranh lụa chứ không phải sơn dầu. Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp.


Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch lam
Hai Dua Tre – Thach Lam

Trong “Hai đứa trẻ” chất lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau hiện ra trong bức tranh thiên nhiên của một vùng quê vào một buổi chiều ả. Rồi màn đêm dần dần buông xuống “Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…” thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng và thơ mộng. “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Nhưng làng quê thì đầy bóng tối, thảm hại. “Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve”. “Đôi mắt Liên, bóng tối ngập đầy dần”. “Chỉ thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”. Chính bức tranh đời sống rất mực chân thật vừa thấm đượm cảm xúc chữ tình này đã gây nên cảm giác buồn thương day cho người đọc. Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu toát ra từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo.

Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện hiện lên thật là cụ thể, sinh động, gợi cảm. Đó là cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ đã vãn từ lâu. “Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”. Cảnh chợ tàn phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện. Ống kính cần mẫn của nhà văn lia qua phố huyện: trên đất chỉ còn “rác rưởi, bỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. Cảnh còn được miêu tả bởi khứu giác tinh tế của nhà văn “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Bức tranh phố huyện trong “Hai đứa trẻ” đầy sức ám ảnh là vì những màu sắc và hương vị như thế.

Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đó, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra. Những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ rơi vãi ở bãi chợ. Mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng xách điếu đóm ra dọn hàng, “ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này…”. Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt”. Thằng con bò ra đất nghịch nhặt rác bẩn bên đường. Và hai chị em Liên với cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê vì thầy Liên mất việc. Bà cụ Thi điên điên tàng tàng mua rượu uống và cười “khanh khách” lảo đảo đi vào bóng tối. Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ. Qua con mắt của bé Liên, tất cả cuộc sống chìm trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên… tức chỉ là mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối mịt mù dầy đặc mà thôi. “Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ ấy trở đi trở lại tới bẩy lần trong huyện là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.
Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại.

Chiều tối nào mẹ con chị Tí cũng lễ mễ dọn hàng, chị em Liên lại kiểm hàng rồi tính tiền, rồi ngồi trên chõng tre ngắm cảnh. Bác phở Siêu lại gánh hàng và thổi lửa, bác Xẩm lại trải chiếu, đặt thau. Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ. Họ cũng lóe lên một chút hi vọng. Hi vọng là liều thuốc an thần cho những con người khốn khổ ấy. Nhất Linh cũng từng nói những người dân quê rất nghèo khổ tiền bạc nhưng rất giàu hi vọng hão “chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.

Hai đứa trẻ làm sao ý thức rõ rệt được cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình. Song với tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, cô bé Liên cảm nhận thấm thía tuy chỉ là vô thức hiện thực đó, khát vọng đó. Chính vì khao khát được thoát khỏi cảnh tù đọng mù tối ấy mà chị em Liên đêm đêm cố thức đợi chuyến tàu đi qua. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.

Hai đứa trẻ” của Thạch Lam không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai cấp. Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức, vì nói cho cũng Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn. Ông phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của nó. Bức tranh làng quê mù xám với những con người nhỏ nhoi đáng thương ấy thấm đẫm niềm cảm thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh bế tắc, tối tăm. Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con người bé nhỏ với chút hi vọng le lói, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn là muốn thay đổi cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ.

 

Truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam, phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam – Gợi ý dàn bài 2:

 

Mang một cuộc sống cơ cực, nghèo khổ, sống trong một khu phố tồi tàn và không có một chút ánh sáng ngoại trừ những thứ ánh sáng nhấp nhoáng nhỏ xíu cùng với một kiếp người sống tàn tạ và tồi tệ. Những con người này là những kiếp người không có lối thoát,họ mng muốn được sống với một kiếp người đầy đủ, tuy không giàu có nhưng cũng đủ để họ bớt cực khổ nhưng hy vọng đó chính là mong manh đối với họ. Những kiếp người tội nghiệp. Đây là nội dung cực kỳ ý nghĩa, gúp chúng ta cảm nhận được số phận của những người nghèo khổ thông qua tác phẩm “hai đứa trả” của tác giả Thạch Lam. Ông sinh năm…người quê…, đã có công lao to lớn khi đã đóng gpóp nhiều tác phẩm có giá trị trong nên văn học của nước nhà vào thế kỷ 20. Nằm trong nhóm Tự Lự Văn Đoàn vùng với những người bạn và tác phẩm như Số Đỏ- Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo – Nam Cao. Những tác phẩm của ông vô cùng phong phú và sâu sắc, không kém những tình tiết lãng mạn.
Buổi chiều – là khoảng thời gian gồm có những yếu tố tác động đến con người, làm cho những con người như chúng ta cảm thấy có một cảm giác buồn chán và vô cùng cô đơn hiu hãnh. Hơn thế nữa, trong tác phẩm “hai đứa trẻ”thì tác giả Thạch Lam đã miêu tả một buổi chiều của nơi phố huyện, một buổi chiều của một ngày tàn, tiếp đến là phiên chợ tàn và những kiếp người tàn tạ không có lối thoát, họ luôn có những ước mơ và khát vọng cháy bỏng.
Cảnh mở đầu của tác phẩm chính là một buổi chiều tàn,bầu trời gồm những áng mây hồng như hòn than sắp tàn, bầu trời được nhuộm một màu sắc đỏ đỏ mang một cảm giác ưu buồn và cô đơn. Không những thế, nó còn có những thứ tiếng âm thanh ếch nhái kêu ran, tiếng trống thu không. Nói tóm lại, thông qua sự miêu tả của một ngày tàn của Thạch Lam, thì phần nào cũng giúp người đọc nhận ra một điều rằng đây là một buổi chiều buồn bã và chán nãn, càng làm them cho người đọc một cảm giác buồn man mác giống như câu:
“ Người buồn chứ cảnh có vui bao giờ”
Xong, buổi chiều tàn kết thúc thế là đắt đầu về đêm, xuất hiện những phiên chợ tàn. Sỡ dỉ nói đến đêm chợ tàn thì tới đây ,càng làm cho người đọc hiểu rõ hơn về hương vị nghèo khó và dau khỏ của những kiếp người tàn tạ nơi phố Huyện. Phiên chợ tàn nơi phố huyện, có thể đây là nguyên nhân và minh chứng nói lên sự đau khổ và nghèo khó của những con người nơi đây. Họ sống song bong tối cùng sự buồn chán, đau khổ và tuyệt vộng. Đối với họ, đây giống như là một địa ngục của sự tỉnh lặng và hơn hết, họ sống điều không có ngày mai.
Sau khi đêm chợ tàn kết thúc, người người điều đi về, tiếng ồn ào không còn nữa,thề là bắt đầu một không khí im lặng trong đêm khuya tăm tối. không những thế, những miếng rác của người bán hang, của những khách đi chợ điều ngoan ngoãn nằm trên mặt đất gồm những vỏ cam, võ bưởi, vỏ quất… Xong, thế là đêm khuya bắt đầu, xuất hiện hình bong của những đứa trẻ nghèo khó nơi phố huyện này. Chúng đi từng bước, từng bước nhẹ nhàng rồi nhặt nhạnh những thanh tre, thanh nứa bỏ vào bao tải. Tại sao chúng không làm chuyện gì khác mà lại nhặt những thứ đã bỏ đi rồi? đối với chúng, những thức rác nằm trên đường điều có thể là những thứ còn dùng được, chúng thật tội nghiệp và bất hạnh. Thông thường, ta điều thấy xung quanh chúng ta, thậm chí là bản thân chúng ta thì đa số ai nấy điều có một gia đình khá giả, đầy đủ, giàu có và được ăn những thức quà, được sử dụng những vật chất đầy đủ, nhưng một khi đã ăn xong rồi hay còn thừa thải, nói chung là những thứ còn dùng được thì ta lại vứt nó đi. Những đứa trẻ này lại nhặt thứ được xemà rác đem về nhà, sỡ dĩ chúng làm như thế là bởi vì chúng quá nghèo khổ.
Ta thấy, cuộc sống của những người nơi phố Huyện thì họ điều là những kiếp người sống trong sự nghèo khổ, cô đơn hiu quạnh, và sống trong bong tối không có lối thoát. Những nhân vật quen thuộc nằm trong truyện như mẹ con chị Tí, gia đình bác Siêu, vợ chồng bác Xẩm, chị em Liên và An và cụ Thi điên.
Trước tiên, ta nói đến hoàn cảnh sống của mẹ con chị Tí. Mẹ con chị sống như một con thoi và hoàn toàn trong bong tối và không có lối thoát. Hằng ngày, mẹ con chị mưu sinh bằng việc kiếm sống nhờ bán hang, những hình ảnh trong truyện nhằm cho ta hấy được là “ Trời nhá nhem tối, thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế từ trong ngõ đi ra. Chị tí, mẹ nó, theo sau, đội cái chõng trên đầu và tay xách rất nhiều đồ đạc”. thông qua hình ảnh miêu tả công việc mưu sinh của mẹ con chị Tí, thì phần nào thể hiện rõ mẹ con chị rất vất vả từng ngày, từng tháng. Không những thế, mẹ con chị xem công việc này như là cái cớ để mong thời gian trôi qua mau hơn, muốn có một cuộc sống ổn định, một công việc ổn định để làm, nhưng cho dù đây chỉ là một điều ước không thể nào thực hiện được.
Đến gia đình bác Siêu,thì ta thấy, bác cũng mưu sinh bằng nghề bán phở. Đói với chúng ta ngày nay, món phở không còn xa lạ cũng như không ít ai cũng đã từng thưởng thức món phở ngon lành và tuyệt vời chỉ từ giá thành bình dân. Nhưng đối với cái phố Huyện tồi tàn này, món phở là một thức quà xa xỉ đối với họ. Công việc mưu sinh của Bác Siêu là bán phở, và cũng giống như chị Tí, nhờ công việc này để có thể mong thời gian thôi qua mau hơn, muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, dù đó là hy vọng mong manh và huyền ảo.
Đến với gia đình của bác Xẩm, thì cũng như mọi người thôi, công việc làm ăn sinh sống của bác là không gì khác đó chính là hát. Bác muốn hát đê mong thời gian trôi qua mau hơn và cũng mong muốn có một công việc nào đó để có thể cải thiện được hoàn cảnh sống, thì nó xa vời lắm. Chúng ta cũng không thể nhắc đến với bà cụ Thi Điên suốt ngày đắm chìm trong cái thứ men ấy chính là rượu. Bản thân của cụ thì bị điên và mất ý thức tự chu của bản thân. Một khi đắm chìm trong thứ men ấy thì cụ đã tồn tại nhưng tồn tại ở dạng thân thể chứ không tồn tại ở dạng có linh hồn, giống như một khói thịt khổng lồ vô tri vô giác.
Những người nơi phố Huyện, họ sống, sinh ra và lớn lên ở nơi đây. Đối với họ thì không khí im lặng, sự cô đơn và buồn chán. Nhưng đối với chị em Liên và An thì nơi đây cũng chưa quen thuộc lắm bởi lẽ hai đứa trẻ này không phải là người dân nơi đây. Hai đứa trước kia là người Hà Nội chốn phồn vinh, kể từ khi cha của hai đứa thất nghiệp và chuyễn về phố Huyện, thì chị em Liên và An phải nhận thức và làm quen nơi đây.
Hằng ngày chị em Liên và An, không những ai đứa trẻ này mà hầu hết tất cà những kiếp người nơi phố huyện điều trông chờ một thứ rất quan trọng vào môi buổi tối. Không gì khác, đó chính là thứ ánh sáng và âm thanh của đoàn tàu hạy ngang từ Hà Nội.
Thứ ánh sáng ấy cũng một phần soi đến phố Huyện và giúp cho khu phố trở nên có ánh sáng thêm một chút, không những thế còn có những thứ âm thanh cười nói của những người hành khách trên tàu làm cho không khí im lặng của khi phố bị ảnh hưởng một tí. Những âm thanh trên đoàn tàu giúp cho chị em Liên và An gợi nhớ đến những tháng ngày ở Hà Nội. sống một cuộc sống tươi đẹp ở chốn thành thị, ngươi đi qua lại tấp nập và được uống với những cốc nước xanh đỏ.
Ngoài ra, thứ ánh sáng và âm thanh của đoàn tàu ấy đã giúp cho những kiếp người nơi phố Huyện một phần nào đó thức tỉnh, họ dám mơ ước đến những cuộc sống ấm no và hạnh phúc, mong muốn một điều gì đó thật tốt đẹp và ý nghia, muốn những gì mà họ khát khao và cháy bỏng bấy lai nay điều thành sự thật, chứ không phải là một thứ phù du mà chờ đợi mỏi mòn.
Hai đứa trẻ, một tác phẩm lãng mạn, xúc động và đầy ý nghĩa. Chuyện kể về một buổi chiều tàn, những phiên chợ tàn và những kiếp người tàn tạ. Những kiếp người nơi phố Huyện, họ luôn là những con người mang một cuộc sống đáng thương nhưng đầy sự khát khao và cháy bỏng nhưng thật sự, những điều mà khát khao cháy bỏng đo thực ra chỉ là sự mong manh và huyền ảo. cuộc đồi của họ phải gánh vác cùng với số mệnh, là những kiếp người nghèo khổ, không có lối thoát.

Bên cạnh đó, chuyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam còn thể hiện sự khát khao to lớn của một đời người,một số phận nghèo khổ muốn vươn tới một cuộc sống tốt đẹp tuy còn khó khăn và lắm chật vật. Và qua đó,tác phẩm còn cho thấy tài năng miêu tả của Thạch Lam đạt đến đỉnh cao về sự miêu tả tâm lí của nhân vật cũng như giúp người đọc nhận ra thứ tình cảm mà Thạch Lam đã dành cho những kiếp người ấy.

Theo Huongdan.edu.vn