Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương – Bài làm 1

"Vì sao trái đất nặng ân tình, Nhắc mãi tên Người Hồ Chí Minh"

Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, vị cha già đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, sự ra đi của Bác là một sự mất mát to lớn của toàn thể dân tộc. Đã có rất nhiều vần thơ thể hiện lòng nhớ thương của những người con Việt Nam đối với Bác. Tuy là một bài thơ ra đời khá muộn, nhưng "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương vẫn để lại trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng, bởi đó là tình cảm của một người con miền Nam lần đầu được gặp Bác. Toàn bài thơ là một lời tâm sự thiết tha, là nỗi lòng thành kính và tha thiết của một người con miền Nam đối với Bác Hồ.

Bài thơ được mở đầu như một lời thông báo nhưng dạt dào tình cảm:

"Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác"

Từ miền Nam xa xôi, Viễn Phương cùng các chiến sĩ ra thủ đô Hà Nội để thăm lăng Bác.Đây là một cuộc hành hương xa xôi cách trở. Khi đến lăng Bác, nhà thơ bồi hồi xúc động. Câu thơ thể hiện tình cảm thiết tha của một người con miền Nam qua cách xưng hô gần gũi, mang đậm chất Nam Bộ:"Con-Bác".

Đứng từ xa ngắm nhìn lăng Bác, hình ảnh hàng tre bát ngát hiện lên trong màn sương huyền ảo của bầu trời Hà Nội:

"Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng"

Từ lâu, lũy tre xanh đã trở thành một nét đẹp của làng quê Việt Nam. Tre là người bạn thân thiết, luôn giúp đỡ con người trong mọi công việc: "Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín". Nhưng ở đây, hình ảnh hàng tre không chỉ dừng lại ở tầng nghĩa đó, hàng tre ở đây được so sánh ngầm với con người và đất nước Việt Nam. Tre luôn đoàn kết, gắn bó tạo nên một lũy thành kiên cường thách thức gió mưa, giông bão.

"Bão bùng thân bọc lấy thân 

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người"

Tre là hình ảnh tượng trưng cho tình đoàn kết, cho khí thái hiên ngang, bất khuất và dũng cảm chiến đấu với kẻ thu của người Việt Nam. Tre luôn đứng thẳng như con người Việt Nam thà chết chứ không chịu sống quỳ. Biểu tượng đẹp đẽ ấy được nhà thơ chọn lọc miêu tả quanh lăng Bác, như cả dân tộc Việt Nam vẫn đang sát cánh bên Bác. Hàng tre Việt Nam ấy, phải chăng là hình ảnh của những người con Việt Nam đang quây quần bên vị cha già đáng kính đang đi vào giấc ngủ an lành? Hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa biết bao!

Tiến gần hơn đến lăng Bác, nhà thơ bắt gặp hình ảnh mặt trời đỏ rực trên lăng:

"Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ"

Mặt trời rực sáng đem đến sự sống, đem đến ánh sáng tươi đẹp cho trái đất. Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là một hình ảnh thực, là một vật thể không thể thiếu của vũ trụ, thì mặt trời trong câu thơ thứ hai lại là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo. Bác như một vầng thái dương sáng ngời, chiếu rọi ánh sáng cách mạng vào tâm hồn để vực dậy sự sống tươi đẹp cho những con người đắm chìm trong bóng đêm nô lệ. Bác là người đã dẫn dắt con đường cách mạng cho toàn thể dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Vì thế, Bác là một mặt trời vẫn luôn ngời sáng, sưởi ấm cho linh hồn của những người con Việt Nam:

"Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già" 

(Tố Hữu)

Hình ảnh dòng người vào thăm lăng Bác đã được nhà thơ miêu tả một cách độc đáo và để lại nhiều ấn tượng:

"Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân"

Ta nhận thấy cụm từ "ngày ngày" được điệp lại một lần nữa. "Ngày ngày" là sự lặp đi lặp lại, không thay đổi. Điệp lại cụm từ này, có lẽ nhà thơ muốn nhấn mạnh một chân lý. Nếu mỗi ngày mặt trời đi qua trên lăng, tỏa ánh sáng sưởi ấm vạn vật là một điệp khúc không thay đổi của thời gian, thì công ơn của Bác ngự trị trong lòng người dân Việt Nam cũng không phai nhòa theo năm tháng, và hình ảnh dòng người ngày ngày vào viếng lăng Bác cũng đã trở thành một điệp khúc của lòng kính yêu Bác. "Tràng hoa" cũng là một hình ảnh ẩn dụ sáng tạo của nhà thơ. Mỗi người con Việt Nam là một đóa hoa tươi thắm, hàng triệu con người Việt Nam sẽ trở thành một tràng hoa rực rỡ sắc màu dâng lên Bác. Hình ảnh hoán dụ "bảy mươi chín mùa xuân" tượng trưng cho bảy mươi chín năm Bác đã cống hiến cuộc đời cho đất nước, cho cách mạng. Mỗi tuổi đời của Bác là một mùa xuân tươi đẹp dâng hiến cho Tổ quốc. Và giờ đây, Bác chính là mùa xuân còn dòng người là những đóa hoa tươi thắm. Hoa nở giữa mùa xuân, một hình ảnh đẹp đẽ, ý nghĩa biết bao!

Theo dòng người, Viễn Phương vào lăng viếng Bác.

"Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xang là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim"

Nhà thơ sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh không chỉ để giảm nhẹ nỗi đau trong lòng những người con Việt Nam, mà còn để ca ngợi sự ra đi nhẹ nhàng mà thanh thản của Bác. Không gian trong lăng Bác ngời sáng một ánh sáng dịu hiền, như ánh sáng của vầng trăng, người bạn tri kỷ của Bác. Bác vốn yêu thiên nhiên, yêu vầng trăng sáng và đã sáng tác rất nhiều vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của ánh trăng như:

"Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa" 

(Cảnh khuya)

hay

"Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia"

(Khán nguyệt)

Suốt cuộc đời, Bác gắn bó với vầng trăng sáng. Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ hay trong nhà lao của Tưởng Giới Thạch, vầng trăng vẫn là người bạn, người tri kỷ luôn ở bên Bác, chứng kiến những thăng trầm, những gian khó hi sinh trong sự nghiệp cách mạng của Bác. Đến hôm nay, vầng trăng ấy vẫn tiếp tục ở cạnh Bác, toả ánh sáng vỗ về cho giấc ngủ an lành của Bác.

Trong khoảnh khắc thiêng liêng bên cạnh Bác, một cảm giác đau xót bất chợt trỗi dậy trong lòng nhà thơ:

"Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim"

"Trời xanh" là hình ảnh ẩn dụ ngợi ca lối sống đẹp của Bác. Hai dòng thơ cho thấy rõ sự đối lập trong suy nghĩ và tình cảm. Nhà thơ và mọi người vẫn biết rằng Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhưng sự ra đi của Bác vẫn là một mất mát to lớn cho mọi người và đất nước Việt Nam. Nỗi đau quá lớn, vì vậy mà mọi lập luận đều trở nên vô nghĩa. Viễn Phương đang ở trong một tâm trạng xót xa, thương tiếc đến nghẹn ngào. Là một người con của Nam Bộ, đây là lần đầu tiên Viễn Phương được gặp Bác. Trong suốt những năm đất nước bị chia cắt, nhân dân miền Nam quyết tâm chiến đấu, ai cũng mong có lúc:

"Miền Nam chiến thắng mơ ngày hội

Đón Bác vào thăm thấy Bác cười"

Nhưng, niềm mong ước ấy không bao giờ thành hiện thực. Bác đã ra đi khi chưa thực hiện được niềm mong ước cuối cùng là vào nam gặp mặt đồng bào, những người con vẫn ngày đêm mong nhớ được gặp mặt Bác.

"Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha"

Vì vậy, sự ra đi của Bác là một mất mát to lớn không gì bù đắp được đối với một người con Nam Bộ như Viễn Phương.

Mạch cảm xúc dâng trào mãnh liệt trong giờ phút chia ly.

"Mai về miền Nam thương trào nước mắt"

Câu thơ thể hiện khoảng cách thời gian ngắn ngủi, khơi gợi trong lòng nhà thơ những cảm xúc lưu luyến. Cụm từ "thương trào nước mắt" nghe dào dạt mà thấm sâu, là sự kính yêu cuộc đời cao cả của Bác, là nỗi xót đau khi đối mặt với giờ phút chia ly cận kề. Thương ở đây bao trùm cả thương yêu, thương kính và thương xót. Thương đến trào nước mắt là niềm cảm xúc không thể dừng lại, không thể kềm chế mà tuôn trào nước mắt, những giọt nước mắt trước lúc chia xa. Cảm xúc đó cũng chính là cảm xúc của con người Việt Nam, của triệu triệu trái tim luôn hướng về Bác. Cảm xúc ấy cũng là nguyên nhân để nhà thơ nói lên ước nguyên sâu thẳm trong tâm hồn:

"Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này"

Điệp ngữ "muốn làm" được điệp lại nhiều lần như để khẳng định ước nguyện chân thành của nhà thơ. Nhà thơ muốn hóa thân thành những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên đất nước để dâng lên cho Bác. Nhà thơ muốn làm con chim cất lên tiếng hót mê say, muốn làm đóa hoa tỏa hương cho đời. Và thật cao đẹp biết bao khi nhà thơ muốn hóa thân làm cây tre trung hiếu, trong muôn ngàn cây tre quanh lăng Bác, để được ở mãi bên Bác. Hình ảnh cây tre ở khổ thơ thứ nhất được lặp lại trong khổ thơ cuối tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng, giúp hoàn thiện biểu tượng cây tre Việt Nam. Nếu ở khổ thơ thứ nhất, tre là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất kiên cường, bất khuất; thì ở khổ thơ cuối, hình ảnh cây tre được lặp lại nhưng là để tượng trưng cho phẩm chất trung hiếu. Cây tre đã trở thành biểu tượng toàn vẹn cho phẩm chất của con người và dân tộc Việt Nam.

Bài thơ "Viếng lăng Bác" đã để lại trong lòng bạn đọc những cảm xúc sâu lắng và tha thiết. Với những hình ảnh ẩn dụ độc đáo và những biện pháp tu từ đặc sắc, Viễn Phương đã thể hiện một hồn thơ rất riêng. Qua bài thơ, Viễn Phương đã thay nhân dân miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung dâng lên Bác niềm cảm xúc chân thành, lòng tôn kính thiêng liêng. Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người đọc, gợi nhắc cho những thế hệ kế tục thành quả rực rỡ của cách mạng cách sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của một con người vĩ đại mà giản dị- Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã sống trọn một đời:

"Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa"

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương – Bài làm 2

Trong niềm vui lớn của đất nước trong ngày đại thắng 30-4-1975, mọi người nhận ra một thiếu vắng không thể bù đắp được: không có Bác Hồ trong cuộc vui lớn này. Ôi! hơn ai hết, lẽ ra phải có Bác trong ngày họp mặt hôm nay, ngày hội mà chính Bác là người chuẩn bị, mơ ước và dõi theo nó trong hơn nửa thế kỉ của cuộc dời vĩ đại! Đau nhất là nhân dân miền nam, những người đã ao ước và đã đổ máu hi sinh trông đợi ngày gặp Bác.

Chính tâm trạng ấy, tháng 4-1976, nhà thơ Viễn Phương từ thành phố Sài Gòn giải phóng , thành phố Hồ Chí Minh thân yêu, ra thăm lăng Bác và trở về với bài thơ Viếng lăng Bác mang nỗi niềm chung của nhiều người.

Viếng lăng Bác ư? không phải đâu, hình như đây là đến với Bác, đến thăm Bác. Bác đã mất ư? không phải đâu, Bác đang sống, Bác đang ngủ thôi mà! Tưởng như Bác đang nhìn thấy mọi người từ xa, nhà thơ thầm đặt tay lên ngực mình, tự giới thiệu với Bác:

CON Ở MIỀN NAM RA THĂM LĂNG BÁC

Con ở miền nam, mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau và một niềm tự hào. Con ở từ miền nam ra đây Bác ơi! Miền nam gian khổ mà anh hùng, miền nam đi trước về sau đây Bác ơi, miền nam thành đồng tổ quốc, miền nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo để trở về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Miền nam với nỗi đau mất Bác, nỗi đau không đón chân Bác sau ngày thắng lợi.

Trong làn sương mờ của ngày thu Hà Nội, đến với Bác, sao như là trở về một làng quê thanh bình nào vậy:

ĐÃ THẤY……………….THẲNG HÀNG

Thật ra, quanh lăng Bác có rất nhiều loài cây loài hoa, đâu phải chỉ có cây tre nhưng chính cây tre đã khiến nhà thơ rung cảm, hàng tre bát ngát, hàng tre xanh xanh,hàng trre bao đời như một dấu hiệu đặc biệt Việt Nam, hàng tre trùm bóng mát rượi lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Việt Nam: dẻo dai, bất khuất, kết đoàn, kiên cường. Dấu hiệu đầu tiên nơi Bác ở đúng là một dấu hiệu Việt Nam, bởi vì Bác cũng chính là một biểu tượng Việt Nam, Bác tiêu biểu cho con người Việt Nam hơn ai hết. Ở Bác có tất cả những gì con người Việt Nam từng có, cũng cái dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cái kiên cường "đứng thẳng hàng" trong "bão táp mưa sa" ấy.

Ôi! đến với Bác không phải là đi mà là trở về, trở về với cội nguồn của chính mình, trở về một ngày tháng thanh bình nào đấy của dân tộc muôn đời, trở về với một giấc mơ nào đó mà tuổi xanh mình hằng ấp ủ. Sao trước lăng Bác không phải là đền đài tráng lệ, rực rỡ, vàng son? mà lại là hàng tre giản dị, quen thuộc đến như giấc mơ vậy? Sự quen thuộc, giản dị, khiến cho người ta phải ngỡ ngàng, phải xúc động đến rơi nước mắt.

Thời khắc đi vào với Bác, dòng người chầm chậm bước đi. Bầu trời cao lồng lộng trên lăng. Mặt trời toả sáng trên lăng, chân bước đi mà lòng ngẫm nghĩ, nhìn trời cao mà nghĩ về Bác:

Ngày …………………rất đỏ

Bác là một mặt trời. Cách ẩn dụ ở đây không biết đã đủ để nói về Bác hay chưa? Cái mặt trời đang toả sáng trên lăng kia, mặt trời của thiên nhiên tượng trưng cho nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên vẹn thế đâu! nhưng vầng trăng mặt trời Bác hồ của ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam, cho các thế hệ Việt Nam. Một mặt trời chiếu rọi trên lăng và một mặt trời toả sáng trong tâm hồn như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng:

NGÀY NGÀY……………….MÙA XUÂN

Nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà sao câu thơ vẫn không buồn? Phải rồi chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như với một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác và tràng hoa vinh quang này không phải được kết bằng những bông hoa bình thường mà là một tràng hoa bất tận, hoa con người, mà Bác đã tạo nên trên đất nước này trong 79 mùa xuân ngắn ngủi nhưng trường cửu của Bác.

Từ bên ngoài, theo nhịp người đi chầm chậm, ta cùng nhà thơ đi vào trong lăng với Bác. Đây là phút nghẹn ngào, lúc này trước mặt ta có Bác, Bác nằm đó, trong giấc ngủ vĩnh hằng:

BÁC NẰM……………….TRONG TIM

Nhà thơ sững sờ nhận ra nỗi đau đớn: BÁC MẤT RỒI. Nhưng Bác, con người vĩ đại giữa con người, không đang trong sự chết bình thường như ta vẫn nghĩ theo lẽ đời. Hình như Bác chỉ ngủ mà cũng hình như Bác đang ngủ, Bác chỉ đang nằm trong giấc ngủ đó thôi, canh cho sự bình yên trường cửu của giấc ngủ ấy là một vầng trăng sáng diệu hiền. Bác nằm đó, trong quan tài thuỷ tinh ấy là sự thật mà lòng ta không thể nào chấp nhận được.

VẪN BIẾT……………..TRONG TIM

Một từ "nhói" của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt nên mọi lí lẽ, mọi lập luận của lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm trí của chúng ta. Nhưng Bác đã mất thật rồi, vắng Bác, cái thiếu vắng ấy lấy gì bù đắp được.

Cuối cùng, dẫu xót xa đến mấy, cuộc chia biệt cũng phải xảy ra. Bác nằm lại với giấc ngủ bình yên vĩnh viễn, với ánh trăng trường cửu trong lăng, còn mỗi người phải bước đi,với cảm giác thật sự về nỗi đau mất Bác.

MAI …………..TRÀO NƯỚC MẮT

Một tiếng thương của miền nam là trọn vẹn tình cảm của người miền nam đối với Bác. Tình cảm ấy là yêu, quý trọng cả cuộc đời cao thượng và vĩ đại của Bác giành hết cho nước, cho dân, ấy là nỗi đau vì mất Bác cùng với niềm thương trào nước mắt ấy, những lời lẻ từ miệng cũng trào dâng trong tâm trí:

MUỐN LÀM……………………CHỐN NÀY

Chân bước đi mà mặt còn ngoảnh lại, không muốn rời xa, không muốn cách chia. Ước chi ta có thể biến thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi được chiêm ngưỡng Bác. Một con chim nhỏ cất tiếng hát làm vui những bình minh của Bác. Một đoá hoa ngát mùi hương làm thơm không gian quanh Bác. Một cây tre trong hàng tre xanh xanh Việt Nam, toả sáng bóng mát dịu dàng của quê hương bên Bác.

Nhưng nhà thơ không thể mong muốn gì hơn. Sự thật là cuộc chia li phải xảy và đã xảy ra. Câu thư trầm xuống để kết thúc, ngừng lặng hoàn toàn. Bài thơ từ đây kết thúc nhưng tâm sự của nhà thơ từ đây lại vút cao lên. Một nỗi tiếc thương khôn nguôi với con người khiêm nhường và vĩ đại, người cha, vị lãnh tụ đã sống cuộc đời tột bậc vẻ vang của con người và cho con người.

Viếng lăng Bác là một trong những bài thơ viết muộn màng, rất lâu, sau ngày chủ tịch HCM qua đời, sau hàng nghìn bài thơ viết về nỗi đau mất Bác. Thế nhưng, bài thơ vẫn tìm cho mình một tiếng nói riêng. Cái mới ấy xuất phát từ tấm lòng chân thành của nhà thơ, nguyên nhân chủ yếu tạo nên thành công của bài thơ chính là điều đó.

Content Protection by DMCA.com

Add a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *